Lao hồi manh tràng điều trị bằng cách nào?

Vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên bệnh lao truyền nhiễm. Trong đó, lao hồi manh tràng là một loại bệnh lao đường tiêu hóa có những triệu chứng dễ nhầm lẫn với bệnh khác. Những người trong độ tuổi lao động thường gặp phải bệnh này.

Bệnh lao hồi manh tràng là gì?

Hồi tràng là nửa cuối ruột non, manh tràng là đoạn đầu của đại tràng. Phân se từ hồi tràng sẽ đổ vào manh tràng có chiều dài khoảng 6cm cùng chiều rộng tới 7cm.

Tình trạng tổn thương đặc hiệu của ruột do vi khuẩn lao gây nên được gọi là bệnh lao ruột. Đây là tình trạng bệnh lao ngoài phổi và xuất hiện thứ phát sau khi bị mắc lao ở bộ phận khác.

Ở mọi lứa tuổi đều có thể bị lao ruột, bệnh gặp ở cả 2 giới với tỷ lệ ngang nhau.

Dù đã giảm nhiều so với trước đây nhưng tỷ lệ bệnh lao ống tiêu hóa đang có chiều hướng gia tăng trở lại.

Đọc thêm: nội soi túi mật

Có 2 nguyên nhân dẫn đến bệnh lao ruột là nguyên phát và thứ phát:

Nguyên phát

Lao nguyên phát ít gặp và chỉ xảy ra khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và khu trú ở ngay ruột. Tiếp đó vi khuẩn lao mới xâm nhập sang các cơ quan khác.

Thông qua đường ăn uống, vi khuẩn lao xâm nhập trực tiếp vào cơ thể, có thể do dùng sữa bò tươi, các chế phẩm từ sữa có trực khuẩn lao bò, sử dụng thức ăn và nước uống có nhiễm trực khuẩn lao.

Thứ phát

Bệnh nhân bị lao phổi, lao thực quản, lao họng hầu, lao màng bụng sau khi dứt bệnh có thể gặp phải lao ruột.

Ước tính có khoảng gần 20% bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường hiện này bị nhiễm lao ruột cùng lao phổi tiến triển, ngược lại có khoảng 25% bệnh nhân lao phổi bị lao ống tiêu hóa.

Trong lao ruột thì lao hồi manh tràng là vị trí thường gặp nhất bởi vì vùng này thường xuyên bị ứ trệ, nơi trao đổi nhiều chất về nước và điện giải nên có sự hấp thu rất mạnh. Vì lẽ đó vùng này cũng xuất hiện nhiều tế bào lympho nhất.

Bệnh lao hồi manh tràng có triệu chứng gì?

Diễn biến của bệnh lao ruột nói chung và lao hồi manh tràng nói riêng rất âm thầm và không đặc hiệu nên ít khi người bệnh đến khám ở giai đoạn đầu.

Xem thêm: nội soi gan

Trong thời kỳ khởi phát

Toàn thân: gầy sút, xanh xao, mệt mỏi, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, …

Các biểu triệu chứng về tiêu hóa:

  • Buồn nôn
  • Đau bụng: gồm đau bụng âm ỉ, không có vị trí cố định, khi đau bụng thường mót đi ngoài, đi ngoài được thì dịu đau, kèm theo sôi bụng
  • Rối loạn đại tiện: ngày 2-3 lần đi đại tiện phân lỏng, phân sền sệt, thối. Đi lỏng kéo dài, dùng các thuốc cầm ỉa không có tác dụng. Có thể xen kẽ ỉa lỏng với táo bón, có khi khỏi vài ngày lại tái phát.

Trong thời kỳ toàn phát

Tùy theo thể bệnh sẽ có những triệu chứng khác nhau trong thời kỳ bệnh toàn phát như:

+ Thể loét tiểu tràng, đại tràng:

  • Bệnh nhân đau bụng nhiều, sốt cao, ỉa lỏng kéo dài
  • Bụng hơi to, có nhiều hơi, sờ bụng không thấy gì đặc biệt.
  • Phân loãng, mùi hôi thối, màu vàng, có lẫn mủ, nhầy và ít máu.
  • Suy kiệt nhanh, xanh xao, biếng ăn. Có bệnh nhân sợ ăn vì ăn vào thì lại đau bụng, ỉa lỏng.

+ Thể to – hồi manh tràng

  • Người bệnh hết ỉa lỏng lại ỉa táo, phân lẫn máu nhầy mủ, không bao giờ phân bình thường.
  • Nôn mửa và đau bụng.
  • Khám hố chậu phải thấy u mềm, ấn đau di động ít.

+ Thể hẹp ruột:

  • Sau khi ăn thấy đau bụng tăng lên
  • Bụng nổi lên các u cục và có dấu hiệu rắn bò.
  • Sau 10-15 phút nghe có tiếng hơi di động trong ruột và cảm giác hơi đi qua chỗ hẹp, có dấu hiệu Koenig.
  • Khám bụng ngoài cơn đau không thấy dấu hiệu gì.
  • Đau bụng

+ Thể hẹp ruột, khám bụng ngoài cơn đau không thấy dấu hiệu gì

Điều trị lao hồi manh tràng bằng cách nào?

Tương tự đối với bệnh lao màng bụng, lao phổi… thì điều trị lao hồi manh tràng cũng là điều trị nội khoa gồm dùng thuốc kết hợp với chế độ ăn hợp lý – đủ chất.

Đọc thêm: case đồng bộ

Điều trị bàng thuốc kháng lao

Kéo dài trong ít nhất 6 tháng và chia thành 2 giai đoạn là tấn công và củng cố.

Trước đây, việc điều trị kháng lao được mở rộng tối đa tới 8 đến 12 tháng tuy nhiên đến gần đây việc điều trị 6 tháng cũng có kết quả tương tự như điều trị chuẩn 12 tháng. Thời gian điều trị cũng có thể được kéo dài đến 12 – 18 tháng.

Tổn thường ruột gây tắc nghẽn không cần phẫu thuật mà có thể điều trị thành công với thuốc kháng lao.

Để quản lý các biến chứng gồm tắc nghẽn, thủng (thông hoặc đường vào hoặc lỗ rò), xuất huyết ồ ạt không đáp ứng với điều trị cổ điển sẽ buộc phải tiến hành điều trị bằng phẫu thuật.

Phẫu thuật cắt chỗ hẹp hoặc cắt bỏ đoạn ruột dùng để quản lý thắt hẹp ruột.

Phẫu thuật cắt bỏ và khâu nối để giải quyết thủng ruột.

Các tổn thương tắc nghẽn không nên áp dụng phẫu thuật bắc cầu như nối ruột, mở thông ruột hồi – kết tràng vì có thể hình thành các vòng mù dẫn đến tắc nghẽn, rò rỉ, kém hấp thu…

Lao ruột có thể được phòng ngừa bằng những phương pháp như:

  • Giữ vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt
  • Không sử dụng sữa bò tươi chưa qua xử lý
  • Cần phải theo dõi thường xuyên tình trạng miễn dịch cơ thể khi sử dụng các thuốc làm suy giảm miễn dịch như corticoid

Phải đi khám ngay để chẩn đoán và điều trị kịp thời khi có các biểu hiện bệnh để tránh bệnh tiến triển nặng, gây nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng.

About The Author

Reply